Tuesday, April 22, 2014

Hai câu hỏi và một câu đáp lại rưỡi

LTS: Theo chân đoàn làm phim của hãng làm ra truyền hình Nhật Bản Nihon Denpa News ( NDN ) , bài viết của Nhà báo Huỳnh Phan đăng trên Tuần Việt Nam/VietNamNet ngày 20/12/2010 đã cùng họ "khám phá một nửa cuộc chiến". Bốn nhân vật Lộ rõ ra trong bộ phim và bài viết dưới đây là bốn con người thông thường của thời kỳ lúa ra đòng đó. Họ bước vào cuộc chiến , rồi bước ra khỏi nó , như một điều thế tất. Có những thương đau , mất mát , có những chia ly... Sắp tới ngày 30/4 , được sự cho phép của tác giả , Bee xin đăng lại bài viết Năm 2009 , nhân đài kỷ niệm 55 tập trung theo tinh thần bạc nhược hiệp nghị Hòa bình Geneve 1954 , Ban Truyền hình của Báo Sài Gòn Tiếp Thị ( SGTT ) , do ông Đặng Tâm Chánh làm Tổng biên tập , đã lên mặt phim nhiều tập "Tập kết năm ’54: Những câu chuyện bây chừ mới kể" , phát trên Đài Truyền hình TP.HCM. Năm nay , theo lời ông Nguyễn Binh Nguyên , Trưởng ban Truyền hình SGTT , ông Đặng Tâm Chánh cùng huynh đệ ban truyền hình cũng Hữu ý định làm tiếp bộ phim về những sự kiện diễn ra ở miền Nam sau thời gian ấy , cho suốt ngày đất nước hợp nhất , phê chuẩn sự sinh ra và vai trò to lớn của chiến trường Dân tộc phóng thích ( NLF ) trong sự nghiệp thu sơn hà về một mối , nhân đài kỷ niệm 50 năm ngày thành lập của tổ chức này. Nhất là sự sinh ra của NLF lại gắn với một sự kiện quan yếu diễn ra cùng năm đó - Phong trào Đồng khởi nổ ra từ Bến Tre. Ngặt nỗi , theo lời ông Binh Nguyên , ban truyền hình SGTT quá bận cho việc sinh ra của thời hạn hàng ngày "Việt Nam ngày nay" , phát trên VTV4 từ 15/7/2010 , nên đành bùi ngùi bỏ quá sự kiện Hữu ý nghĩa này. Nhưng những người cộng sự từ một quốc gia Đông Bắc Á đã thay ông Tâm Chánh , và cả ông Binh Nguyên , làm việc này. Họ còn lấy quê hương Bến Tre của ông Tâm Chánh làm bối cảnh chính cho bộ phim của mình. Mặc dù , ý tưởng làm phim về NLF của họ đã Lộ rõ ra hoàn toàn độc lập với Truyền hình SGTT. Và đối tượng khán giả họ phục vụ người ốm trước nhất là những người Nhật , đặc biệt là thế hệ đã tham dự phong trào phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong số đó có những người trở nên các nhà nghiên cứu Việt Nam , như Giáo sư Tsuboi Yoshiharu - nhà Việt Nam học đi hàng đầu của Nhật bản , không chỉ về lịch sử mà cả chính trị , kinh tế và văn hóa. Khám phá nửa còn lại của cuộc chiến Tháng 10/2009 , phúc đáp phỏng vấn của phóng viên , giám đốc điều hành của hãng làm ra truyền hình Nhật Bản Nihon Denpa News ( NDN ) đã tiết lộ: "Trong năm tới , chúng ta dự kiến làm hai bộ phim quan yếu về NLF và Đường mòn Hồ Chí Minh , nhân đài kỷ niệm 50 năm ngày sinh ra của cả hai". TGĐ Ishighaki Misao còn cho biết thêm , ngoài tính cách to lớn dành cho Việt Nam , năm 2010 cũng là năm đài kỷ niệm 50 năm ngày thành lập của NDN - mà tên tuổi của hãng làm ra truyền hình khá nhỏ về qui mô này đã gắn với cuộc Chiến tranh ở Việt Nam. "Hơn nữa , NDN phản ánh cuộc Chiến tranh tại Việt Nam chủ yếu ở phía Bắc. Còn phần cuộc chiến ở Miền Nam vẫn là điều mà chúng ta đang muốn khám phá" , Ishighaki , nguyên là một quay phim ở miền Bắc trong giai đoạn 1969-1972 , nói , và cho biết thêm rằng cảm nhận duy nhất về cuộc chiến ở miền Nam của ông là một đêm nằm bên bờ Bắc của sông Bến Hải , khi ông nhìn thấy tiếng nổ và những ánh đèn dù lóe lên ở bờ bên kia. Từ giữa tháng 1/2010 , ông TGĐ Ishighaki đã sang đặt vấn đề với Vụ thông tin - Báo chí , Bộ Ngoại giao , và , sau khi được cho phép , đã khai triển ngay. Ông Ishighaki cùng đạo diễn Matsumoto Takeaki , đạo diễn nổi danh Nhật Bản về đầu đề phim chiến tranh , nhất là bộ phim về Điện Biên Phủ ( 2004 ) và hai tập phim về Chiến tranh Việt Nam ( 2005 ) , đi tiền trạm lần đi hàng đầu bằng đường bộ từ Hà Nội , trong vòng hai tuần cho cả hai bộ phim. Đầu tháng 2/2010 , họ đã hiện diện ở Bến Tre. Sau lần tiền trạm thứ hai tại Bến Tre , kéo dài suốt hai tuần từ cuối tháng 6/2010 , đạo diễn Matsumoto và đoàn làm phim 5 người đã thực hành nghề nghiệp quay phim kéo dài 3 tuần lễ. Họ đã phỏng vấn 19 nhân vật , quay hết 30 cuốn phim. Để có bộ phim dài 50 phút , phát trên Đài NHK vào đầu tháng 12 mới rồi , ngoài 900 phút tư liệu lịch sử quay được , các nhà làm phim đã phải mua thêm 16 phút phim tư liệu lịch sử của Xưởng Phim Quân đội , với giá 600 USD/phút. "Vẫn còn rẻ một nửa so với cái giá mà trọng tâm lưu trữ phim quốc gia phát ra" , ông Trần Huy Công , đại diện NDN tại Việt Nam và là một thành viên của đoàn làm phim , nói. Ông táo cho biết thêm tư liệu lịch sử mà NDN mua bao gồm những cảnh lính Mỹ đổ bộ xuống Bến Tre , cảnh càn quét , lục soát nhà dân , hay bắt người , tra tấn , cũng như cảnh nhà tù. Tư liệu lịch sử này còn bao gồm những hình ảnh về phong trào Đồng khởi ở Bến Tre , Quân phóng thích tự chế tạo khí giới , hay phá ấp dân sinh. Đặc biệt là hình ảnh Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu. Phúc đáp câu hỏi của phóng viên Tuần Việt Nam về lý do NDN lấy Bến Tre làm bối cảnh chính cho bộ phim về FLN , ông Trần Huy Công , người chịu bổn phận chính trong việc sưu tầm tư liệu lịch sử , nhân vật liên quan , và trực tiếp phỏng vấn họ , giải thích: "Lý do thứ nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ đã diễn ra ở khắp miền Nam , và quay cả miền Nam là một điều không tưởng. Trong khi đó , Bến Tre là địa phương rất đặc điểm của miền Nam , và rất đặc điểm của đồng bằng sông Cửu Long. Lý do thứ hai , Bến Tre chính là quê hương của Phong trào Đồng khởi. Lập luận của đạo diễn Matsumoto là nếu không có Đồng khởi vào đầu năm 1960 , không nhất định đã có sự sinh ra của chiến trường Dân tộc phóng thích vào cuối năm đó. Tức là từ nhu cầu thực tiễn của cách mệnh miền Nam mới có Đồng khởi , và từ phong trào này , chiến trường phải sinh ra như một thế tất để xếp hàng tất cả các lực lượng yêu nước lại. Hơn nữa , đối với những người nước ngoài quan hoài đến lịch sử và chính trị Việt Nam , Đồng khởi đã phản ánh sự chuyển hướng mang tính bước ngoặt của cách mệnh miền Nam từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang , biểu lộ trong quyết nghị 15". Ông táo cũng cho biết thêm rằng điểm khác biệt căn bản của bộ phim này so với các bộ phim về chiến trường do các nhà làm phim Việt Nam làm mà ông đã có dịp xem là các nhà làm phim Nhật Bản chọn cách biểu lộ phê chuẩn các nhân vật cụ thể , trong quá trình tham dự chiến trường cũng rất cụ thể và rất riêng của từng người trong số họ. "Chẳng hạn , đối với bà Nguyễn Thị Khao , tức Út Thắng , là lãnh đạo của mấy xã Đồng khởi đi hàng đầu ở Bến Tre , sau thời gian ấy lên làm lãnh đạo tỉnh , lãnh đạo phụ nữ , chúng ta quan hoài tới việc bà họp với những ai , ra quyết nghị thế nào , hay chỉ đạo phong trào ra sao. Rồi , qua sự chỉ đạo đó , những người như bà Ca Lê Du đã thực hành cụ thể thế nào" , Trần Huy Công giảng giải. Trong số 19 người được chọn phỏng vấn , các nhà làm phim NDN đã chia ra từng nhóm nhỏ , mang tính đại diện cho chiến trường. Từ nhóm lãnh đạo phong trào , du kích và người lính đia phương , hay đạo quân tóc dài , đến những người nông dân thông thường bị đưa vào ấp dân sinh , đại diện cho giới trí thức - văn nghệ sĩ , hay đại diện cho Phật Giáo và đạo thiên chúa. "Chẳng hạn như ni sư Như Chơn ( tục danh là Thái Thị Kiều ) , sinh năm 1943 , là người tỏ thái độ đồng tình cách mệnh rất nhiệt thành. Khi chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phập Giáo , thì trong đội ngũ Phật Giáo bà đã xuống đường biểu tình chống đàn áp , chống cả bắt lính nữa. Với nhân cách một ni sư đi hành đạo đi từ Sài Gòn , về tỉnh lỵ Bến Tre , rồi xuống huyện , xuống xã , bà mua rất nhiều thuốc thang cung cấp cho người lính phóng thích và du kích" , Trần Huy Công dẫn chứng. "Nhưng chúng ta tập trung nhiều nhất vào 4 nhân vật , bởi câu chuyện của họ rất hay , rất cảm động , và cũng rất lạ đối với người nước ngoài như người Nhật" , Trần Huy Công nói tiếp. Hai Lúa tự làm mìn diệt trực thăng Đó là anh nông dân - du kích Nguyễn Văn Chồn , sinh năm 1941 , một người tham dự chiến trường vì thù ghét chính quyền Ngô Đình Diệm , sau khi chứng kiến cảnh quân đội Sài Gòn đàn áp , chém giết người cộng sản và cả những người bị nghi là Cộng sản. Từ năm 1960 , ông đã tự mình đi tìm bom nổ chậm , hay đạn thối để về cưa ra lấy chất nổ. Ba năm sau , ông Chồn đã vào một binh công xưởng ở huyện Giồng Trôm để làm ra khí giới cho quân phóng thích và du kích. Không qua một khóa huấn luyện về chất nổ nào cả , nhưng vì nhanh hoặc chuyên nghiệp khi làm gì đó , trong 15 năm trời ông đã cưa những quả bom nổ chậm , đạn thối , cộng tất cả lại lên tới 3500 kg để làm ra 8.000 quả lựu đạn , 1.200 quả thủ pháo và 200 quả mìn định hướng. Ông có đặc tài mò bom , đạn dưới kênh rạch , hay sông ngòi rất giỏi. Chính nhờ những quả mìn định hướng tự tạo đó , ông Chồn đã tham dự đánh ba máy bay lên thẳng của Mỹ , khi chúng chở quân đổ bộ xuống quê hương ông. Biết trước rằng Mỹ sẽ đổ quân ở khu vực đó , ông đã gài trước mìn định hướng trên nhánh cây , và khi trực thăng sà xuống là cho phát nổ. Với Thành quả diệt gần một trăm lính Mỹ , ông được ban tặng danh hiệu Dũng sĩ Diệt Mỹ , và nhiều huân chương , đặc biệt là danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang vào 15.1.1976. Chiến tranh kết thúc , Anh hùng Nguyễn Văn Chồn lại trở lại với nghề cầm cày , cầm cuốc , làm ruộng , làm vườn nuôi gia đình. Ném quả lựu đạn thối - đi Côn Đảo 13 năm Sáng sớm ngày 26/10/1961 , trên quảng trường An Hội , thị xã Bến Tre , chính quyền tỉnh Kiến Hòa ( Bến Tre ) tập trung hàng ngàn người , trong đó có nhiều học trò , tổ chức mittinh nhân ngày quốc khánh chế độ Ngô Đình Diệm. Trong đoàn học trò của trường quốc lập Kiến Hòa , có 2 học trò là Đặng Quốc Tuấn và Ngô Văn Thiều , cùng học lớp 10A2 , có hành vi khác lạ. Khi đến quảng trường , hai cậu tách khỏi đoàn học trò để trà trộn vào đoàn "lao động cần lao" đứng gần lễ đài. Phần lễ chấm dứt , đến phần diễu hành , tất quan chức trên khán đài tiến về phía trước , đứng xúm lại , vẫy chào các đoàn diễu hành. Tỉnh trưởng Kiến Hòa tươi cười , vẫy tay chào. Bất thần , hai vệt khói trắng từ phía dưới bay về khán đài , rồi nhiều tiếng hô to "lựu đạn"... Viên tỉnh trưởng đã đặc tính bất thần bằng cách nhoài người tóm quả tạc đạn. Rồi sau một loáng ngần ngừ , vị trung tá tỉnh trưởng như nhận ra quả tạc đạn lép , nên giữ chặt trong tay. Rồi cả quả tạc đạn thứ hai , rơi cách ông gần 10 mét , cũng không nổ. Ngô Văn Thiều bị bắt tại chỗ , còn Đặng Quốc Tuấn , tuy lợi dụng cảnh hỗn loạn đã chạy thoát , nhưng cũng bị bắt sau đó. Theo báo chí thời ấy , phiên tòa phán xử "hai học sinh Việt Cộng" diễn ra ở thị xã Bến Tre vào đầu năm 1962 , kéo dài suốt 1 ngày với sự bào chữa của "luật sư thân cộng" Trịnh Đình Thảo. Còn ông Đặng Quốc Tuấn kể lại rằng , tại phiên tòa , thầy cãi Trịnh Đình Thảo đã rất khéo viện dẫn lý lẽ "tuổi vị thành niên" , để cứu họ khỏi án tử. Bản án "20 năm khổ sai" đã được tuyên vào khoảng 5 giờ chiều. Khi Đặng Quốc Tuấn được tàu Hải quân đón về từ Côn Đảo , ông phải nằm trên cáng , rồi ngồi trên xe lăn. Hơn 13 năm ở Côn Đảo với biết nhiêu đòn tra tấn của cai tù đã biến một chàng trai mặt còn bấm ra sữa thành một ông già khắc khổ. Một đồng đội cũ của Đặng Quốc Tuấn trong đội biệt động Bến Tre là Nguyễn Thị Nhi , rồi đây trở thành vợ ông , đã đến hỏi ông ở Bệnh viện Bến Tre một cách kính cẩn: "Thưa bác , bác ở Côn Đảo về , bác có biết anh Sáu Tuấn không ạ?" Có một chi tiết thú là cái rủi của chiến sĩ biệt động "nhí" Đặng Quốc Tuấn lại là cái "hên" của nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo - viên Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa Khi đó. Ông Phạm Ngọc Thảo kéo dài cuộc đời hoạt động của mình thêm gần 4 năm nữa , sau khi bị an ninh quân đội Sài Gòn bắt và tra tấn đến chết , do dự khán vào một âm mưu đảo chánh bất thành. Để rồi đây , nhà cách mạng , nhà văn và nhà báo Trần Bạch Đằng ( dưới bút danh Nguyễn Trường Thiên Lý ) , Ủy viên chủ tịch đoàn mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam , có cơ hội viết được cuốn tiểu thuyết tình báo nức tiếng một thời "X30 phá lưới". Và bộ phim dài tập "Ván bài lật ngửa" , do chính ông viết kịch bản , đã tạo thành danh tiếng Nguyễn Chánh Tín trong nền điện ảnh cách mạng Việt Nam với vai diễn để đời "Trung tá Nguyễn Thành Luân". Chỉ có điều đáng tiếc , ông Đặng Quốc Tuấn đã không xem bộ phim này. Tuy ông có đến viếng mộ Anh hùng Phạm Ngọc Thảo. Khi được các nhà làm phim NDN hỏi , về cảm tưởng khi biết tin viên tỉnh trưởng đó Ấy là "người mình" cài vào , ông Đặng Quốc Tuấn , người sau ngày núi sông thống nhất đã trở thành một cán bộ văn hóa , làm đến Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Bến tre , trước khi nghỉ hưu , đã nói: "Đến cả lãnh đạo mặt trận tỉnh còn chưa được biết nữa là cỡ chúng tôi. Rủi tạc đạn thối thì chịu thôi." Hết chỗ lành lặn trên người mới chịu rời quân ngũ Cuối năm 1967 , trên sông Hàm Luông ở Bến Tre có hai tổn thất lớn liên tục xảy ra với quân đội Mỹ. Đó là trong vòng hơn một tháng hai chiến hạm lớn của Mỹ mang số hiệu 833 ( dài 110 mét , rộng 25 mét ) và 821 ( dài 110 mét , rộng 12 mét ) bị đánh chìm. Cùng bị cháy với chiếc hàng đầu - một cơ xưởng hạm - vào đêm 23/11/1967 , tại địa phận xã Mỹ Thạch An còn có hai trực thăng , 10 quân hạm chờ sửa sang đi cùng , 4 tàu tuần tiễu , 24 khẩu pháo 155 ly và 105 ly , và 350 lính Mỹ , Úc Tân Tây Lan và Nam Hàn bị chết. Cùng chung mệnh số với chiếc tiểu chiến hạm thứ hai , vào đêm 29/12/1967 , tại đảo Đất , ngã ba sông Đốc , có hai chi đội xe tăng M113 , 24 khẩu pháo , 2 trực thăng , 12 quân hạm xung quanh và 2 tàu tuần tiễu. Trong hai chiến công lớn công binh thủy Bến Tre năm đó , có hai tổ 4 người được ghi danh. Người độc nhất có mặt ở cả hai trận đánh nói trên là Phan Văn Xệ , tức Minh Xệ , một chuyên gia "đường dây" , có nhiệm vụ gắn dây vào hai khối thuốc nổ mà đồng đội đã gắn vào hai bên tàu , và thả dây dẫn vào bờ. Theo những người làm phim của NDN , cho đến nay người Mỹ Vẫn ngỡ ngàng , không hiểu vì sao hai chiến hạm của họ , được canh giữ rất nghiêm mật như vậy , lại bị đánh dễ dàng đến thế. "Minh Xệ nói ông biết có những sĩ quan Mỹ muốn tìm gặp ông , người độc nhất còn sống , nhưng không hiểu vì sao bên phía mình không cho họ gặp" , Trần Huy Công kể lại. Trước đó 4 năm , Minh Xệ bắt đầu dự khán Quân giải phóng , khi đi theo một người anh là thầy giáo một trường công binh thủy của tỉnh. Tất kỹ năng của một đặc công nước Minh Xệ đã được học từ đó. Cho tới thời điểm đó , ông dự khán nhiều trận đánh lớn , lập nhiều chiến công , và đều thoát hiểm ngoạn mục. Nhưng đến chiến dịch Mậu Thân , vận may không còn mỉm cười với "Kình Ngư" của đất Đồng Khởi khi dự khán đánh trên bộ. Khi tập kích vào tỉnh lỵ Bến Tre , Minh Xệ bị bắt vào chính ngọ mông Một Tết. Ông bị đưa ra Phú Quốc , và sau 5 năm bị giam giữ , ông được trao trả vào ngày 1/2/1973 tại Thạch Hãn. Sau khi điều trị ở Quảng Ninh , đến 1/1974 , ông lại xin trở lại miền Nam. Tháng 5/1974 , trong hàng ngũ của trung đoàn 261 thuộc quân khu 9 , Minh Xệ dự khán đánh bốt Băng Tra , xã Nhuận Phú Tân , Mỏ Cày Bắc. Lại bị thương vào mặt , đùi , thái dương , đầu và phổi. Sau một tháng điều trị ở quân y viện của huyện Mỏ Cày Bắc , Minh Xệ lại dự khán đánh tiếp các đồn bốt ở xã Hòa Lộc... Vào đêm 28/4/1975 , Trung đoàn 261 có nhiệm vụ đánh chặn Sư đoàn bảy , Quân đoàn 12 , Vùng 4 Chiến thuật của Quân đội Sài Gòn , không cho chúng về tiếp viện cho Sài Gòn , tại ngã tư đồng lòng ( tên gọi bây giờ ) thuộc quốc lộ 1 , đoạn từ Mỹ Tho lên Sài Gòn. Minh Xệ lại bị thương vào tay trái , đứt ruột già , và hậu môn ( phải làm hậu môn nhân tạo ). Sau khi điều trị xong ở Quân y Viện Định Tường ( Tiền Giang ) , tháng 1/1979 , Minh Xệ lại dự khán Trung đoàn 2 , Sư đoàn 330 , đánh quan ải Tây Nam. Chỉ đến tháng 8/1979 , sau 16 năm 8 tháng trong quân ngũ và dự khán tất thảy trận đánh lớn , ông mới phục viên , với quân hàm thiếu úy. Trên người ông Khi đó khó có thể tìm được chỗ nào còn lành lặn. Là thương binh 4/4 , Minh Xệ có Các quy định có hộ lý phục vụ , và ông dành suất đó cho vợ. Sau khi phục viên , ông ở luôn mảnh đất của đơn vị ở Đường Ngọc Giải , khu phố 10 , phường 6 , đô thị Mỹ Tho - vốn là chứng cứ thiết giáp của Sư đoàn 7 Quân đội Sài Gòn. Phu phụ ông sống cốt tử bằng tiền bán nhãn , ngoài Bớt đi nhà nước trả hàng tháng cho phu phụ ông theo chế độ. Mảnh đất ông đang ở và trồng nhãn đã được quân đội chính thức chia cho ông , sau quyết định của tổng trưởng Tập họp nhân lực Lê Đức Anh - người Tư lệnh cũ của trận mạc Quân khu 9 , trong đó có Bến Tre. Những đồng đội cũ sống quanh Minh Xệ đều đã được cấp sổ đỏ , riêng ông thì chưa. "Tôi toàn đi xin mồm không thôi , nên chưa được cấp là phải" , người chủ nhân của hai Huân chương "Chiến công hạng 3" , 3 Huân chương "Chiến công Giải phóng" , 2 Danh hiệu "Kiện tướng diệt Mỹ" , và 2 Danh hiệu "Dũng sĩ diệt xe tăng" , vừa cười vừa nói với đoàn làm phim NDN. Người biểu tình chuyên nghiệp Nói về mặt trận Dan tộc giải phóng miền Nam Việt Nam , không thể nào không nói đến đội quân tóc dài - những người chống chọi cốt tử trên mặt trận chính trị. Trong đội quân tóc dài ở Bến Tre , không thể không nhắc tới cái tên Ca Lê Du ở xã Tân Thành Bình , huyện Mỏ Cày Bắc - một người luôn dẫn đầu các đoàn biểu tình suốt từ năm 1959 Thấu suốt ngày miền Nam được giải phóng. Bà Ca Lê Du , sinh năm 1934 , là còn của ông Ca Lê Thỉnh ( rồi đây là Đại sứ Việt Nam tại Căm pu chia ) , đốc học ở Bến Tre , và là em của Nhạc sĩ Ca Lê Thuần , đạo diễn Ca Lê Hoài , chị của thi nhân - liệt sĩ Ca Lê Hiến ( Lê Anh Xuân ). Sở dĩ , bà không theo cha và các anh chị em ra tập kết ra Bắc vì đã có chồng , một người cộng sản được giao nhiệm vụ ở lại miền Nam. Năm 1959 , xảy ra vụ đầu độc tù nhân ở khám đường Phú Lợi , nơi chồng bà Ca Lê Du bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam giữ. Cùng với thân nhân của các tù nhân ở Phú Lợi , bà Ca Lê Du đã dự khán biểu tình lần hàng đầu , tranh đấu chống hiếp , tra tấn , và đầu độc tù nhân. Đến lượt bà cũng bị bắt giam. Lần hàng đầu là vào năm 1959 , bị đưa lên Sài Gòn giam 9 tháng. Năm 1967 , lại bị bắt , giam 14 tháng ở lao lý Bến Tre. Năm 1971 lại bị giam 3 tháng , và năm 1972 bị giam 4 tháng. Nhưng kể từ khi được thả lần đầu , bà luôn hàng đầu trong các cuộc biểu tình đòi dân sinh , dân chủ. Bà dẫn đầu đoàn nữ giới nhà nông đi biểu tình từ ấp , lên xã , lên huyện , rồi lên tỉnh , khi bất luận có chuyện gì xảy ra. "Chẳng hạn , khi địch nã pháo , hoặc càn quét vào trong xã. Hay , sau vụ nã pháo có mấy tử thi , thế là nữ giới , thân nhân người bị hại bỏ mấy chác chết lên cái ghe , kéo lên tận tỉnh lỵ Bến Tre , đấu tranh" , bà kể với đoàn làm phim NDN. Khi được đoàn làm phim NDN hỏi vì sao bị bắt giam Hai ba lần như vậy , chắc bị tra tấn mà sao vẫn lành lặn như vậy , bà tủm tỉm cười: "Nhờ phước ông già tui đó. Đám tỉnh trưởng , huyện trưởng , rồi cảnh sát trưởng đều là học sinh cũ của ổng , nên cũng nể mặt tui , và bảo lính không được đối xử tệ với nử tử thầy học cũ". Hai câu hỏi - một câu trả lời rưỡi Trần Huy Công cho biết có hai câu hỏi mà các nhà làm phim NDN luôn đặt ra với tất thảy nhứng người được phỏng vấn. Thứ nhất là động cơ dự khán mặt trận , hay cách mạng của họ. Những người Nhật thật sự không hiểu vì sao Chính quyền Sài Gòn Khi đó lại đối xử với người dân của mình như vậy , bắt bớ , hay nhốt họ vào ấp chiến lược. Bà Út Thắng nói do sự đàn áp của Chính quyền Ngô Đình Diệm với những người Cộng sản , nhất là sau khi Luật 10/59 ra đời. Số đảng viên cộng sản ở Bến Tre đã giảm từ hơn 1000 người hồi năm 1955 xuống còn hơn 100 người. Còn ông Đặng Quốc Tuấn nói rằng ông dự khán mặt trận vì chứng kiến chính quyền Ngô Đình Diệm đã kể lại những vụ chú bác của ông bị lôi từ dưới hầm lên và giết trước mắt ông. Lòng căm thù khiến ông dự khán biệt động khi chưa đủ thành niên , và ném tạc đạn để báo oán. Bà Ca Lê Du trả lời rằng chồng bà bị bắt nên bà tranh đấu đến cùng thì thôi. "Đạo diễn Matsumoto lần cuối đã tin rằng với chính sách "bắt nhầm , giết nhầm , còn hơn bỏ sót" , chính quyền Khi đó ở miền Nam đã chuốc thêm mối căm thù từ nhiều từng lớp khác nhau trong tầng lớp , chứ không phải chỉ từ những người cộng sản , mà họ cho là những kẻ thách thức Chức quyền của họ" , Trần Huy Công kể lại. Nhưng còn câu hỏi thứ hai là cảm giác khi mặt trận Dân tộc giải phóng bị biến mất sau vị lai hai năm , kể từ khi giải phóng , đạo diễn Matsumoto đã chỉ tìm thấy một nửa câu trả lời. Quá nửa số người được hỏi , theo Trần Huy Công , đều biểu hiện sự nuối tiếc , ngay cả vào thời điểm được hỏi. Bà Út Thắng nói: "Sớm quá , ngỡ ngàng quá. Bởi người miền Nam đâu hiểu mặt trận tổ quốc là gì. Họ chỉ biết mặt trận Dân tộc giải phóng thôi". Còn ông Đặng Quốc Tuấn , người độc nhất có cảnh quay với đoàn làm phim ở ngoài địa phận Bến Tre , khi ông được Truyền đạt ra thăm Côn Đảo , đã ngồi trên cầu tàu nói với các nhà làm phim: "13 năm ngồi tù , chỉ nghĩ đến mặt trận Dân tộc giải phóng. Vậy mà , giải phóng xong , mình vừa đứng dậy được sau bao nhiêu lâu phải bò lê bò lết , thiên nhiên thấy mặt trận Dân tộc giải phóng mất tiêu. Choáng váng quá. Tuy biết là tất yếu , nhưng giá để miền Nam hiểu miền Bắc hơn , và miền Bắc hiểu miền Nam , rồi hẵng giải tán có phải ưu tú không?" Trần Huy Công nói rằng Matsumoto đã không Hiểu ra vế lần cuối trong câu trả lời của ông Tuấn , mặc dầu ông đạo diễn Nhật không hỏi thêm. Nhưng người viết bài này thì hiểu hàm ý của vị cựu quan chức phụ trách truyền thông Bến Tre. Trước đó , một "người lính" của cả Tâm Chánh lẫn Binh Nguyên ở SGTT là nhà văn - nhà báo Nguyễn Trọng Tín - một thành viên dự khán mặt trận Dân tộc giải phóng ở cái tuổi như ông Đặng Quốc Tuấn , nhưng sau đó chừng hơn mười năm và không được giao ném tạc đạn - đã từng nói với người viết một điều tương tự: "Tôi cho tới giờ vẫn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi là vì sao tổ quốc đã thống nhất mà dân tộc vẫn chưa thật sự hòa hợp?" dễ thường , đó không chỉ là câu hỏi của nhà văn Nguyễn Trọng Tín , mà của nhiều người khác , trong đó có cả các sử gia và nhà báo , muốn tìm câu trả lời. Hoặc giả đành phải chờ đợi sự ra đời của một , hay hơn một cuốn hồi ký của một , hoặc hơn một người trong cuộc nào đó. Huỳnh Phan ( Theo Tuần Việt Nam/VietNamNet )
.

No comments:

Post a Comment